4 tháng 7, 2012

Mãi mãi tuổi hai mươi (1)


Nguyễn Văn Thạc

Mãi mãi tuổi hai mươi

Nhật kí liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc

***

2-10-1971

Nhiều lúc mình cũng không ngờ
nổi rằng mình đã đến đây. Không ngờ rằng trên mũ là một ngôi sao. Trên cổ áo là
quân hàm đỏ. Cuộc đời bộ đội đến với mình tự nhiên quá, bình thản quá và cũng
đột ngột quá.

Thế là thế nào? Cách đây ít
lâu, mình còn là sinh viên. Bây giờ thì xa vời lắm rồi những ngày cắp sách lên
giảng đường, nghe thầy Đường, thầy Đạo... Không biết bao giờ mình sẽ trở lại
những ngày như thế. Hay chẳng còn bao giờ nữa! Có thể lắm. Mình đã lớn rồi. Học
bao lâu mà đã làm được gì đâu, đã sống được gì đâu? Chỉ còm cõi vì trang sách,
gầy xác đi vì mộng mị hão huyền.


Hai mươi tám ngày trong quân
ngũ mình hiểu được nhiều điều có ích. Sống được nhiều ngày có ý nghĩa. Dọc
đường hành quân, có dịp xem lại lòng mình, soát lại lòng mình.

Mình bắt đầu sống có trách
nhiệm từ đâu, từ lúc nào? Có lẽ từ 9-3-1971, tháng ba của hoa nhãn ban trưa,
của hoa sấu và hoa bằng lăng nước.

Những người bạn thân yêu của
mình đã lần lượt đi học xa hết cả rồi. Mỗi người một phương. Các bạn đã đi lên
phương Bắc. Còn mình, sẽ đi về phương Nam...

Đêm Hà Bắc thật thanh bình.
Thèm quá, nghe một tiếng thì thào của cánh gió trên đồi bạch đàn... Mình đã sống
trên 20 ngày bên hồ cá Yên Duyên, Yên Sở. Ở đó có những đường cây đẹp tuyệt.
Mình đã chụp tấm ảnh bộ đội đầu tiên dưới một gốc dừa, sau lưng là hồ cá. Hoàng
hôn thong thả thay màu nước. Và ngôi sao Hôm trầm tư, kiêu hãnh đã mọc trên
trời. Cuộc đời bộ đội đâu dễ dàng như thế. Mình đã khóc, nước mắt giàn giụa, khi
các bạn tiễn mình đi, khi buổi lễ kết thúc, khi bài Quốc ca rung bầu không khí
trong lành trên Trường Tổng hợp. Bản nhạc này đây, bao lần mình đã nghe, đã cúi
đầu suy nghĩ. Nhưng hôm nay mới thực hiểu, thực cảm một điều giản dị: Bài Quốc
ca của ta, của ta!

Khóc, không phải vì hèn yếu, không
phải vì buồn bã, mà vì xúc động. Vì buổi chia tay này thiêng liêng quá. Những
người bạn thân yêu nhất của mình không thể tiễn mình đi được. Và bàn tay ấy, và
đôi mắt ấy, giọng nói ấy... Lên xe rồi, xe nổ máy. Xe VN sản xuất, tiếng động
cơ như tiếng tim mình vậy. Nghẹn thắt vì một cảm giác khó tả, mình ngước nhìn
lần cuối cùng cánh cửa sổ, nơi hằng ngày mình bò ra, nhìn xuống lòng đường.
Khoảng trời nhỏ của riêng mình đó. Một hôm nào, những hôm nào mình mong chờ
nhìn thấy bạn của mình đạp xe qua, để mình gọi... Bây giờ, là chia tay, xe lăn
bánh, êm ru, xe đi êm, mà bọn mình xô vào nhau, chen nhau thò tay ra cửa. Ngoài
kia, những khuôn mặt gần gũi, tuy có người chẳng bao giờ mình trò chuyện, chẳng
bao giờ mình nghĩ rằng có họ sống trên đời… ở đâu, khuôn mặt thân yêu ấy? Bạn
đi, mình không gặp được.

Đêm 26.7 chỉ là những gương
mặt xa lạ, đầy vẻ háo hức và tự mãn. Rối loạn, và thoảng một thứ mùi khó chịu.
Mình không dám đứng lâu và đành chịu một nỗi ân hận giày vò… Mình đi, khi bạn
đang bước vào năm học mới. Bước lên giảng đường, bạn có nhớ tới mình không?...
Đừng, hãy để tâm hồn trọn vẹn thanh thản, mà đón một mùa xuân của lòng mình.
Trang đầu của cuộc đời sinh viên, đừng để rơi một giọt mực, đừng để loang lổ
một vết ố vàng…

Xe ơi, lao nhanh hơn, cho ta
chóng tới gia đình lớn. Nơi ta gửi gắm cả thời thanh xuân của mình...

Hơn cả khi trên tay phập
phồng tờ quyết định. Vui sướng, tự hào, cảm động làm sao khi trên người ta là
bộ quân phục xanh màu lá. Anh sinh viên quen màu trắng áo của cánh cò, quen màu
xanh da trời tháng nắng... Mình trút bỏ không thương tiếc, và trìu mến khoác
lên mình màu xanh ấy. Màu xanh của núi đồi và thảo nguyên, của ước mơ và hi
vọng. Màu xanh bất diệt của sự sống.

Trên mũ là ngôi sao. Ta lặng
ngắm ngôi sao, như hồi nào ta chỉ cho bạn: Kia là sao Hôm yêu dấu… Nhưng khác
hơn một chút. Bây giờ, ta đọc trong ngôi sao ấy, ánh lửa cầu vòng của trận công
đồn, màu đỏ của lửa, của máu…

Ta thấy trong màu kỳ diệu ấy,
có cả hồng cầu của trái tim ta….

Ai ra đi cũng với lòng say lý
tưởng, và nhẹ nhàng bên trong là chút ước mơ. Buổi gác đầu tiên là đêm trăng
sáng, là bài thơ, là một trang nhật ký… Sung sướng và hãnh diện biết bao, ơi
xóm làng yêu qúi, ngủ yên, ngủ yên, có anh bộ đội thức canh trời. Những mái nhà
nghiêng như mí mắt thân thương, nhắm ngủ ngon lành… Ta bước nhẹ, lâng lâng một
mùi hương quen thuộc. Bưởi đã cuối mùa, ổi đã cuối mùa… Cây lá đang dồn nhựa để
trổ ra một mùa quả chín…

Đồng đội đọc cho ta nghe
những vần thơ trong trẻo:

“Gậy Trường Sơn đưa ta lên
đường đánh Mỹ.

Nồi cơm Thạch Sanh xưa là
chuyện ước mơ.

Nay là lòng dân với người
chiến sỹ”.

Ta đã đọc ở đây những cái tên
lần đầu ta đọc, lần đầu ta biết. Cái tên ấy, những cái tên ấy là một nốt sol
điềm tĩnh, nốt la nhí nhảnh… là 7 cung bậc của bản đại hợp xướng mà dân tộc ta
đang cất lên tiếng hát…

…”Bộ đội đi rồi, chỉ khổ dân,
lại nhớ mãi thôi…”

Ai đã nói với mình điều ấy,
khi trời đã rạng sáng? 9g30 phải vào màn, nhưng ta thức trọn một đêm, với bốn
bề đang rạng sáng, mặt trời mọc, và em bé đã ríu rít ở hàng ô rô xén gọn. Một
tiếng võng kêu, một vệt nắng kẻ ở ngoài hiên, một con nhện giăng tơ trên cành
ổi... Có gì khác với nơi ta ở, nơi ta gửi gắm tuổi thơ. Sông Tô Lịch đen ngòm
chảy rụt rè trong thành phố, tới đây, vẫn rụt rè như cây trinh nữ… “Mắc cỡ gì
mà khép cánh ư em?”

Ta đã bao lần đi bên sông Tô
Lịch, trước kia ta khó chịu vì mùi bùn oi nồng... Ta đã mấy lần hành quân bên
sông Tô Lịch, ta yêu sông vì bọt tăm sủi, vì màu xanh non, tươi trẻ có công vun
đắp của dòng sông. Có phải lòng sông đã quên mình nhơ bẩn, đã chịu lòng mình
mang mùi vị ấy để đem cho đời những cọng rau muống tươi kỳ lạ, để đem màu hồng
tươi cho thành phố. Sông Tô ơi, mai trở về, ta khơi lại dòng sông, cho tuổi thơ
vẫy vùng, cho con thuyền anh chở em đi, đi vòng quanh thành phố...

Hôm nay, đi bên sông, dưới
cái nắng chang chang, trên vai là balô con cóc của Trường Sơn. Không thể nói là
nhẹ được. Quai đeo thít vào vai, ép lồng ngực lại. Đau và bỏng rát, khó thở. Đè
lên hông, ép vào lưng, ướt đầm đìa là mồ hôi ta đấy. Ta đặt balô, và cười luôn
được. Ừ, cuộc đời ta là thế. Phải cười và phải vui. Bài hát ta yêu là Trường
Sơn Đông - Trường Sơn Tây... Con đường gánh gạo không có muỗi, nhưng không phải
là nhẹ nhõm. Vai sinh viên, mặc dù tâm hồn luôn bay bổng, nhưng nên thơ hơn cả
những vần thơ là cái nghiến điếng người trên vai, là cái nắng bàng hoàng, dữ
dội.

Yên Sở ơi, ta yêu Yên Sở như
làng quê ta vậy. Nơi trú quân đầu tiên của đời ta. Nơi ta gọi bạn của mình là
đồng chí. Nơi em thơ gọi ta là chú bộ đội, và những cô gái làng gọi ta: Chào
các anh bộ đội.

Em đừng cười anh vì bộ quân
phục thùng thình. Mẹ ta nghèo, rau cháo nuôi ta, đau khổ bốn nghìn năm, chắt
chiu từng hạt gạo nuôi ta. Để bây giờ ta lớn. Phải lớn lên, phải to ra cho kịp
tầm cao của lịch sử. Cánh tay này sẽ bóp nghẹt cổ quân thù.

Đêm đầy sao, chi chít những
sao, như lòng mẹ, như lòng em đứng ở bên đường. Hồ nước trong kỳ lạ. Sao mẹ kể,
những cái hồ ấy là nước mắt? Đau khổ nghìn năm, những tròng mắt nào đã đầm đìa
để tích tụ thành hồ… Mà hôm nay đời vui như thế? Con cá dưới hồ cũng quẫy, cũng
đớp ánh trăng và chào anh bộ đội… Cá, cá ơi, đừng cười anh nhé, đừng kể cho
những cô gái trong làng, chuyện bọn anh sợ đỉa, khi các cô ngồi bên bờ này nhắc
đến các anh… Quên làm sao vườn nhãn um tùm, nơi ngày đầu ta ngồi yên nghe giảng
bài chính trị… Đầm ấm quá thôi, trên là cây lá, xanh xanh, lấp lánh ngôi sao
trên mũ, lung linh những vì sao trên cổ áo, đỏ như lửa là quân hàm, bùng cháy
những ngọn đuốc là cháy tim ta… Ê a, ê a là lời em thơ tập đọc. Cô gái nào mà
dáng thanh thanh giống người ấy thế… Kỷ niệm lắng sâu, theo ta vào trận đánh…

Những ngày hôm nay, hôm nay
sao khỏi bồi hồi. Nồi nước mẹ đun sao thơm kỳ lạ. Có phải đắng cay cả một đời,
nên bát nước mẹ đưa ngọt ngào đến thế? Chia tay với con mà mẹ vẫn cười, âu yếm…

Hành quân từ 5 giờ chiều đến
9 giờ đêm, đẹp lắm. Trăng đầu tháng còn đỏ quạch, cứ gợi cho ta nhớ một cánh
buồm. Đấy, cánh buồm đỏ thắm, đựng đầy gió, gió cuốn những ngôi sao đêm, ùa vào
lòng thuyền và đẩy thuyền trôi trong tâm tưởng... Ngủ bên bờ một dòng sông, có
những đường dừa thật đẹp.

Trời trong quá, dây điện
chăng như những dòng kẻ của một trang vở học trò. Đừng bấm đèn trêu họ, cứ để
họ nói chuyện với nhau. Anh con trai sắp xa người bạn của mình. Cô ta lại về
trường học tiếp. Chỉ còn vài tiếng nữa thôi là còi tàu, là chuyển bánh. Anh dặn
gì cô ấy, có lẽ chẳng dặn gì đâu, và chỉ mỉm cười... Cậu nào đã cất tiếng hò:

“Tiếng ai như tiếng chuông
vàng

Tiếng ai như tiếng cô nàng
của anh...”

Còn tiếng này thì đúng là
giọng anh Châu rồi, anh “Mộng Châu”:

“Anh yêu em lắm em ơi,

Nhưng anh chẳng dám ngỏ lời
với em...”

Lính khoái, cười khúc
khích... Những vì sao dưới sông cũng va vào nhau... Những cánh dừa cũng nắm tay
nhau tinh nghịch bay qua bầu trời thanh bình. Tiếng động cơ như xay lúa.

Đêm đẹp vô cùng, ta lắng nghe
đất thở. Anh bạn nằm bên rọi đèn pin tìm gì, có phải anh tìm con dế đang cần cù
dạo bản nhạc đêm của Pritsvin? Không cưỡng nổi, ta lấy giấy và viết thư cho Như
Anh...

“12 giờ đêm 28/9/1971”

Như Anh có thích đọc những
dòng này hay không? T. viết cho Như Anh khi đang nằm trên bờ một con sông. Sông
đẹp lắm. Đêm rất khuya. Vành trăng đỏ quạch sắp lặn xuống chân trời.

Đồng đội của T. người thì
đang ngủ, người đang nói chuyện. Dưới cuốn sách mà T. kê, có 2 lá thư sắp gửi
cho Như Anh. Sương ướt đẫm vải nhựa. Không một ngọn đèn. Chỉ những vì sao, soi
cho T. viết những dòng này.

Bắt đầu cuộc đời bộ đội là
thế này đây. Tối quá, nhưng cứ viết. T. thích thế. Rồi đây, sẽ có nhiều lúc T.
viết thế này. Chắc xấu như ma lem.

(Hành quân đây – Chào Như Anh
nhé - Thật tiếc)…

Đến ga rồi, ga Văn Điển.
Nhưng nào có tàu. Mệt quá, lại phải gánh nồi quân dụng.Chẳng chịu được nữa,
mình ngồi bệt xuống đất, dựa vào ba lô mà ngủ. Suỵt, nói giấu các “o văn công”
chứ, thật đúng với câu: “Má văn công, mông bộ đội”!. Những chuyến tàu đêm chạy
từ Hà Nội đến, cánh cửa, ô cửa đầy thương nhớ. Tàu phì ra những cuộn khói,
những đám mây nhân tạo. Mặc kệ, tớ còn ngủ. Đợi một chuyến đi xa…

Sau cùng thì xếp được ba lô
lên tàu. Tàu T. Q, khá rộng. Mình chẳng có chỗ đứng, đành đứng trước chỗ đi
giải. Thật bất tiện. Nhưng chẳng sao hết.

Đêm âm u quá, cánh đồng vắng
lặng, chỉ nghe tiếng gió, tiếng con tàu thở phì phì. Kia rồi, Hà Nội, là phố
Nguyễn Du lấp lánh sau bức tường của ga Hàng Cỏ. Thôi, chào Hà Nội, 3 hoặc 4
tháng sau ta lại về, ta lại hành hương trên các đường phố vắng gắn bó với cuộc
đời ta…

Sông Hồng ban đêm, mùa nước,
cầu phao dập dềnh, ta nhận ra cầu vì ánh điện. những con mắt chói ngời kia bảo
ta, đó là bờ… Chao ôi, dòng sông Ănggara xa xôi chảy qua thành Iêkut, đêm nào
có giống đêm nay? Ta như gặp lại khuôn mặt thân yêu ấy. Giói đừng thổi mà tóc
lại bay rối, lại phải lấy lược chải hoài… Gió đừng thổi, hơi lành lạnh đấy, mà
áo thì mỏng về nhà lại ốm…

Bắt đầu xuất hiện bạch đàn
dọc theo đường tàu chạy. Cây bạch đàn ta yêu, ta quí. Cây bạch đàn chép lại cho
ta một thời thơ ấu đầy chất thơ, và say nồng mùi cỏ mật. Bạch đàn ơi, chạy theo
anh nhé, chạy theo tàu của anh và sống mãi với anh. Khi nào anh nằm xuống, bạch
đàn hãy rủ lá, run rẩy và ru cho anh ngủ. Cây bạch đàn cứ cao lớn với đời, cứ
hát cho đời bài ca về thầy giáo Đuy Sen và cô học trò giỏi Altưnai, bài ca về
cây phong lá đỏ. Mặt trời mọc rồi, các ô cửa của toa tàu xanh màu quân phục. Em
nhỏ trên đồi đi học đấy ư, mà sao khăn quàng bay và bàn tay nhỏ cứ vẫy các anh...
Ta bỗng nhớ một đoạn thơ T.H:

“Các em ơi, đã học chưa

Các anh dựng cho em trường
mới nữa.

Chúng nó chẳng còn mong giội
lửa

Trường của em đứng giữa đồi
quang

Tiếng các em thánh thót quanh
làng…”

Ta đã đi qua vùng đồi trung
du của Bắc Thái, dấu vết của chiến tranh, của lụt lội còn hằn rõ ở đây. Ta đã
nghĩ gì khi nhìn và lặng người bên hố bom thù đào sâu gần khu luyện gang thép.
Mẹ ơi, ở đây con đã hiểu chiều sâu của đất. Cuộc sống thanh bình chỉ cho ta giá
trị chiều rộng, chiều dài của mảnh sân con thường đùa nghịch, của mảnh vườn
tháng 10, mía đang ngọt dần lên ngọn, của ngôi nhà ấm cúng con ngồi viết bài
thơ ca ngợi đất. Chưa biết rằng, đất có chiều sâu, mà hôm nay vế bom thù đã
khơi dậy cho con.

Ga Lương Sơn hay ga gì đó, xuống
tàu và vào bãi cỏ rộng nghỉ. Khoảng 9 giờ rồi, cỏ may, cô gái nào xưa níu bước
chân chàng trai trẻ, nay gài vào quần các anh bộ đội. Cô muốn thêu gì lưu niệm?
Đêm nay, bên bếp lửa nơi trú quân, nhặt cỏ may và chắc có anh chàng mơ mộng lại
nghĩ hoài một người bạn gái, giỏi nghề may vá… “Em khâu gì vào chiếc áo của
anh?”…

Và cả cây mắc cỡ, cô gái ngây
thơ, khẽ chạm vào là nép mình xấu hổ, các anh lính trẻ lại cứ trêu hoài...

Chuyển tàu, lính xô nhau lên
chiếm chỗ gần cửa sổ. Ừ thế mà Vũ Đình Minh lại viết: “Người bốn phương nhìn
nhau qua ánh mắt/ Một chỗ ngồi cũng nhường nhịn cho nhau”!

Tớ khoái không để đâu cho hết,
vì được ngồi bên cửa sổ. Tàu chạy rồi, gió thốc vào mát lạnh. Từ đây, rừng rậm
rạp hơn, đồi kề ngay đường tàu chạy. Người kiếm củi trên đồi cứ vẫy…

3.10.1971

(Suốt đêm qua không ngủ được.
Cứ thức hoài vì những cảm giác nôn nao, rạo rực. 1 giờ sáng, khuya quá rồi.
Phải vào màn ngủ. Ừ, cuộc sống bên trong của con người thật kì lạ, cứ nhớ, cứ
nhớ... Nhớ ai, nào biết... mà sao không ngủ được).

Rừng chẳng nên thơ như ta
tưởng tượng. Cây cao, xù xì nom rờn rợn. Vực sâu, dây leo chằng chịt, chứa đựng
biết bao điều bí ẩn. Cuộc sống của ta sẽ kéo dài ở đó.

Dân tộc ở đây là gì? Mán hay
Thổ? Ta chỉ mong nhìn thấy một cô gái Sán Dìu, quần đỏ, giữa mênh mông đồi cây.
Bỗng nhớ một câu thơ có vần: Gà đánh trống.../ Khỉ leo thang/ Có những cô nàng/
Váy đỏ yếm trắng… " Sao lại nhớ đến câu ấy? Bạn hỏi vậy. Mình chẳng biết
nữa. Hình như màu sắc, âm thanh, hình khối hoà trộn trong đó phù hợp phần nào
với những cảnh mà mình đang chứng kiến.

Ai đã xây nên những đường hầm
xuyên núi, bàn tay của ai đã lần lữa trên những mặt đá này. Ngồi bên cửa tàu
chạy nhanh, gió thốc vào lành lạnh, cả hơi đất, hơi đá ẩm ướt, âm u. Toa tàu
tối om. Không ai hé răng. Vì sợ hay vì lạ. Còn mình thì lạ, cứ thò đầu qua cửa,
nhìn về phía cửa hầm. Bụi than bám đen cả mặt. Con tàu phóng thanh rung lên bần
bật. Ánh nắng đây rồi, hối hả trên từng khuôn mặt. Ngoảnh lại phía sau, là ngọn
đồi con tàu vừa chui qua. Vẫn cây lá ấy, bình thản vô tư lự… “Chuồn chuồn kim
thân dài, cánh đỏ/ Em khâu gì trong áo xám của đồi cây... "

Có lẽ là như vậy. Yên lặng,
bình thản trên đó, để dưới đáy sâu của nó, có con tàu băng băng chở đi một
nguồn sinh lực mới...

Tàu ơi, cứ chạy đi, chạy
nhanh đến những vùng đất nước xa xăm. Kìa là cây vào, cây bương, khác với lùm
tre quen thuộc. Cái cây gì mà cao lạ lùng, trong suốt cả cuộc đời nó đã tiễn
mấy chuyến tàu qua…

Bạn thì thào bên tai: Suối
đấy, trong lắm. Nhưng đừng vội tắm... Ờ, dòng suối trong vắt, róc rách chảy
dưới chân đồi. Những viên sỏi xanh đỏ tím vàng óng ánh đâu rồi? Mà chỉ thấy
những chiếc lá úa vàng xoáy tròn và chìm nghỉm... Đám mây ơi, mây trôi về đâu?
Nhắn giùm ta tới người bạn ấy, rằng: ta nhớ lắm, nhớ bồi hồi. Ta gục đầu xuống
bàn… Rồi sau đó thì sao, P. không biết nữa, P. không muốn biết nữa, vì khi đó,
T. gần quá, đến nỗi không thể chấp nhận được câu trả lời ấy...

Anh câu gì bên dòng suối ấy?
Tôi nhìn rõ lắm sợi cước trong trong như một tia nắng cong queo trên mặt nước.
Cuộc sống thanh bình biết mấy, trong một dáng văng cần, trong một bóng mát của
vành mũ lá...

Lính ào qua cửa sổ, sỏi dưới
chân cũng mang màu đỏ quạch của núi đồi. Nắng gắt, choang choáng. Ga này cũng
không biết tên nữa. Chỉ có bưởi, quả bưởi trên rừng nhỏ như nắm tay và khô. Dùng
tạm vậy. Tất nhiên là phải có tiền. Mệt, nhưng mọi người đều hồ hởi và hể hả.
Khoan khoái ngồi trong bóng của ngôi nhà lợp nứa. Chẳng có nước. Trời nắng -
giở bánh mì ra ăn, nghẹn lại nơi cổ họng... Tạm biệt, con tàu màu xanh, đi
đi... Xa hơn nữa là Bố Hạ, cam Bố Hạ... là sông Thương... Còn ở đây, khét
cháy...

Được lệnh hành quân vào rừng.
Chỉ 7km thôi.

Con đường rừng đầu tiên ta
đi, vai nặng ba lô mồ hôi ướt đẫm ngực, vai và sau lưng áo. Con đường dài và
mất hút".. Quay lại phía sau, cũng con đường... Con đường xa lạ và gập
ghềnh...

Khiếp, ba lô chứa gì mà nặng
thế, oằn cả lưng anh bộ đội. Mảnh đồi ơi, ta chưa từng quen biết, nhưng hôm nay
mồ hôi ta đã nhỏ xuống đất này.

Nắng cứ chang chang, con chim
gì cứ kêu làm rối lòng người. Đường dốc ngược lên trời.

Những ngọn đồi này đây, gần
một thế kỷ nay, là nghĩa quân của Hùm thiêng Yên Thế. Bà mế ơi, cây súng kíp
này có phải của bố ngày xưa đóng khố theo cụ Đề đánh Pháp. Gian nhà trống trải
trơ trọi trên đồi. Nước ở đây ít lắm. Nhòm xuống giếng cứ hun hút. Em có soi
gương thì đi ra suối. Cái gương giếng nhà làm chóng mặt em...

Cụ chủ già lắm rồi, mái tóc
bạc trắng, da mặt hằn nếp thời gian. Cụ cởi trần trùng trục, quấn quanh mình
một mảnh vải thô, hai bàn chân khoằm khoằm, đi vòng kiềng mà thật vững.

Em gái học lớp 9 trên huyện,
vắng nhà... Anh biết vậy vì áo hoa xanh của em không phơi trước cửa, mà gấp ở
đầu giường. Núi rừng ơi, Yên Thế... Ta yêu người vì cây chò chỉ, cây lát, cây
lim sừng sững, như bộ ngực của nghĩa quân...

Ta nằm ngửa mặt cho những giọt
nắng đỏ lanh tanh chạy từ kẽ lá. Gốc đa rừng, cái dốc của rừng, bàn chân nào
đặt bước đầu tiên trên con đường hỏm hẻm luồn sâu trong lá để bây giờ đến lượt
ta đi…

Đường dài đến thế, ta đi mãi,
mải miết trèo... Chỉ thấy ba lô nặng trên vai, chỉ thấy mây trắng cuốn về
phương Bắc, thấy trời xanh ngút ngàn, và rậm rì là cây, là cỏ…

Đã cuối mùa sim. Quả sim tím
sẫm, ngòn ngọt. Có phải rừng chiều ta nên kéo dài mùa sim tím cho lính. Miệng
cậu nào cũng lép nhép những sim. Xóm làng đây thưa thớt, mái nhà như một đốm
nhỏ chìm giữa lá cây...

Rải chiếu giữa trời là cây
giàng giàng. Đừng bước vội hái hoa rừng mà gai đùm đũm doạ đấy. Ta đút vội vào
ngực áo những chiếc lá rừng mà ta chưa biết gọi tên. Lá héo, mà thơm, phảng
phất từ đâu đấy. Bạn có biết ta yêu rừng không vậy… Ôi, cái nắng trong rừng,
rưng rưng nhựa. Ai đã viết những câu thơ để bây giờ ta đọc:

“Da bàn tay thường chạm với
da cây,

Khuôn mặt người chạm vào mặt

Rừng già ơi, rừng già kỳ lạ
quá.

Không có những ngày này hồ dễ
đã quen nhau…”

4.10.1971

“Anh hẹn em cuối tuần/Chờ
nhau nơi cuối phố/Biết anh thích màu trời/Em đã bồi hồi, chọn màu áo xanh/Sáng
chủ nhật trời trong/Nhưng trong lòng dâng sóng/Chẳng thấy bóng anh sang/Đêm thứ
hai thu vàng/Đêm thứ ba thu tàn/Mùa đông thứ tư sang...”

Bạn, đừng hát nữa, mà làm nao
lòng bộ đội. Ta bước trên đồi bạch đàn, dưới chân là đá sỏi... Chao ôi, bầu
trời xanh quá, màu áo thân yêu của ta đã xếp lại nơi nhà...

Bạn, đừng hát nữa, mà làm nao
lòng bộ đội. Ta bước trên đồi bạch đàn, dưới chân là đá sỏi... Chao ôi, bầu
trời xanh quá, màu áo thân yêu của ta đã xếp lại nơi nhà... Bao giờ hai đứa hẹn
nhau, hẹn ở đầu phố.. . ơi cái phố thẳng tắp những cây, những ngôi nhà. Chắc
phố buồn lắm đấy, vì vắng bóng lũ trẻ đá cầu, đi câu con cá trắng... Vắng một
giọng cười...

Ao ước lắm, một lần gặp bạn,
một lần nữa thôi cũng được ta sẽ nói hết, ta sẽ nói hết. Phố đừng cười nhé, dặn
thế rồi mà lá cứ reo reo...

Sao khi ở gần với phố, chẳng
yêu phố nhiều hơn nữa, để bây giờ hối tiếc... ừ, thời gian... Bảy ngày là đủ
một tuần. Không phải 7 ngày chờ mong nữa, mà dằng dặc...

Đồi bạch đàn vẫn thong thả
đồng ca bài hát cổ xưa của mình. Bạch đàn ơi, bỡ ngỡ gì mà em xoè lá? Hương
bạch đàn, nhựa bạch đàn gợi điều mơ mộng quá... Em ở đâu chẳng về, anh dắt tay
em... Qua đồi này, là tới đồi sim, tới đồi hạt dẻ. Sim cuối mùa, đừng bắt đền,
làm môi em tím. Tím lưng đồi là màu tím hoa mua, không, chẳng phải đâu đấy là
màu tím Huế, màu tím của em…

Chao ôi, là nhớ... Mình tưởng
tượng thấy bóng dáng yêu dấu đang nép sau thân bạch đàn ứ nhựa. Đừng giận gì
nữa hết, xa nhau lâu rồi, còn có điều gì để giận... Hay P. giận vì lá thư cuối
tháng 6 không được trả lởi? Không viết nổi P. ạ, không sao viết nổi, vì nỗi
thương cảm sâu sa bóp nghẹt trái tim T…

Khuôn mặt dịu dàng ấy, sao hôm
nay im lặng thế, xôn xao trong lòng ta, là vần thơ của nhà thơ nào, lâu lắm
không nhớ rõ, cứ lan lan...

“Em đã nói biết bao lời,

Với cha, với mẹ, với người
xung quanh

Với biển cả với cây xanh

Sao em không nói với anh một
lời?...”

Ôi, giọng nói ấy, cứ làm ta
rạo rực, giọng nói đánh thức trong ta những niềm xao xuyến đã chết lặng và làm
cho hồn ta, trái tim ta tràn đầy hạnh phúc. Suốt từ hôm ấy… Hơi thở ấy đã phả
vào từng sợi tóc, bàn tay thân yêu ấy đã xoa dịu cho ta nhưng vết thương. Ta
tưởng chừng có thể tan biến đi, "thân cát bụi lại trở về cát bụi”… Ta muốn
sụp xuống trước trái tim trong sáng ấy... ơi, thần tượng của ước mơ ta...

Luôn luôn ta mơ ước, ta khao
khát, một buổi sáng đẹp trời, nhớ một màu xanh kỳ dị, ta thức giấc trong hạnh
phúc. Một người đang chờ ta, đang đợi ta. Đó là P., đó là P. yêu dấu...

Ta khao khát một sớm mùa hạ,
cùng nắm tay P. trong phòng đọc sách... Mùi sách quyến rũ hay gì mà làm ta xao
xuyến thế?

Ta thường mơ, một mùa nào đó,
dẫu là mùa đông ướt át và nhầy nhụa... Ta đứng trên sân ga lắng nghe tiếng mưa
đuổi nhau trên bức tường rêu xám. Lòng ta đâu có thế, ta đứng chờ…

Và kia, P. yêu dấu của ta, từ
trên tàu bước xuống, P. ùa vào lòng ta hay ta chạy đến dụi đầu vào gò má ấy,
mấy năm trời còn gì nữa. P. hé miệng cười, nhưng ta đọc trong đôi mắt một màu
ươn ướt. P. đưa ta về ngôi nhà 72, mới một lần ta hững hờ đến. Và P. sẽ kể cho
ta vô vàn chuyện trên đất nước xa xôi.

Còn ta, sẽ kể cho P., về chuyện
đời, vê những đồi phi lao Hà Bắc, mà mỗi bóng áo đều gợi nhớ tới P., sẽ kể cho
P. những "mảnh liềm trăng cong một nỗi nhớ nhau”...

Ta sẽ kể cho P. rằng: P. ơi,
một buổi họp trong đình, đình cũ kỹ, ống máng han rỉ, ta thèm được tay cầm khẩu
súng loáng ngời ánh thép. Đạn vuốt nòng lắm, ta yêu khẩu AK này như yêu người
nào ấy, khẩu súng ơi, súng sẽ gắn bó với đời ta, cùng sống chết với ta…

Khi ấy, chắc chắn ta sẽ lại
nói với P. rằng, cả cuộc đời ta, cuộc sống riêng tư của ta thuộc về P. vĩnh
viễn. Từ lâu rồi, cuộc sống tâm hồn của ta tan biến đi trong tình cảm nồng nàn
của P., cái lò lửa rực hồng ấy.

Tới đây, ta mới hiểu thế nào
là sự sợ hãi khi phải vĩnh viễn xa P. Đừng, lạy chúa, viễn cảnh ấy đừng bao giờ
xảy ra cả, đừng, mà ta sống với ai, sống trơ trọi và cô đơn thế, ta làm sao
sống nổi.

Khổ vô cùng là nói thật chỗ
yếu của lòng mình. Ta đâu muốn thế. P. bảo: “Thích thư T. lắm!" Chẳng phải
thế đâu P. ạ, rồi sau này nhiều năm, quay nhìn về dĩ vãng P. sẽ cười và lúc đó
hết cả “thích thư T. lắm”. Lúc đó, những lá thư mà T. viết bằng những trưa
không ngủ, bằng đêm khuya yên lặng trên trường Tổng hợp, trên mỏm đồi xa xôi
này, viết bằng cả tâm hồn, bằng tất cả nỗi xao xuyến của trái tim - chỉ là một
mớ giấy tầm thường, cần phải vứt đi.

Nhưng cũng chẳng sao, và cũng
phải thôi. Vì ta chỉ thú nhận điều đó với riêng P., với một mình P. thôi. Ai
chưa gặp ta cũng đều bảo ta ngớ ngẩn. Ai mới gặp ta cũng bảo rằng: Mình quý,
mình thương. Ai ở với ta một thời gian cũng trỏ vào mặt ta mà bảo: Dở người!...

Còn ta, chỉ cười, chỉ khóc.
Ta bay trên mây, dưới gió. Ta đã gặp ai đâu, ngoài người ta yêu quý, mà có một
lần ta đã xoa tay vĩnh biệt! Rồi đây, người ấy có tự xa rời ta không, không
biết. Có phải đời ta là cầm AK đánh giặc. Đứng trên đồi phun lửa vào kẻ thù,
dạn dày, thầm lặng... chẳng cần ai biết đến đâu. Rồi lúc nào ta chết, chỉ cầu
xin một điều, trên nấm mồ của ta là cây bạch đàn; cây bạch đàn mảnh dẻ...

Nằm trong lòng đất, giá còn
được nghĩ, ta sẽ làm thơ, ừ, làm thơ, làm toán... Chà, lập dị, lập dị, ngớ ngẩn
đến thế nữa cơ.

Sao bây giờ ghét đời sinh
viên đến thế. Thõng thẹo và ọp ẹp. Phải sống khỏe mạnh, dữ dội trong lửa đạn.

Dân quý anh bộ đội. Bọn mình
đi xin tre về làm nhà ở. Tre đấy, ngoài vườn, anh cứ ra mà chặt. Tre đực, tre
cái, tre bánh tẻ đan lóng đôi, lóng mốt, đan sọt đeo đá sau lưng. Cây tre VN,
lòng bà mẹ VN, có phải bây giờ ta mới hiểu đâu. Nhưng bây giờ ta mới được nhìn,
được thấy...

24.10.1971

Nằm mãi mà không ngủ được.
Đêm nay là đêm thứ bao nhiêu rồi, mình thức dậy. Đồng hồ chỉ 11 giờ kém 15,
Kisinhốp là mấy giờ rồi?

Lâu lắm, 20 ngày đã qua, bận
bịu và mệt mỏi, mình bỏ quên trang nhật ký, nhưng có lúc nào quên được Như Anh.
Tháng mười, tháng sinh nhật - Tuần lễ sinh nhật đi qua. Ừ, trời cũng trong xanh
hơn và lòng ta cũng mở ra đón gió. Tuổi 19, 20…

Như Anh ở đâu, nắm lấy bàn
tay T., gió rét về thổi tím ngọn bàng, đâu rồi hơi ấm của ta?

Ai bảo những ngày này không
đẹp, không thơ?

25.10.1971

Tháng 11 sắp đến rồi... Và
như vậy, tháng 8 đã trôi qua...

Buổi sáng đến chậm chạp.

14.11.1971

Đã 10 giờ đêm, chủ nhật. Đang
buổi tiếng thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam. Khi còn ở nhà, những buổi tiếng thơ
này, mình ngồi bên bờ ao hay bên một cái giao thông hào ngập nước, nghe những
giọng ngâm quen thuộc. Thế mà hôm nay, ở đây, ở cái đất Hà Bắc này, mình ngồi
viết, vừa lắng tai nghe... Kim Cúc đấy, với giọng hơi mượt mà, chải chuốt, Kim
Dung, Trần Thị Tuyết. Nghe quen như giọng người hàng xóm.

Buổi trưa, vừa gửi thư cho P.
Có lẽ đó là cái thư cuối cùng ở đất Hà Bắc. Từ ngày mai, không được ra khỏi chỗ
đóng quân nữa. Không biết đi lúc nào - Lo lắm, liệu P. có hiểu và thông cảm cho
không - Biết làm sao được, khi bản thân mình không thể chủ động trong chuyện
đó.

Gặp Dũng, bạn học từ lớp 8 -
Dũng học Đại học Y khoa, và bây giờ ở C.17. Dũng cũng tốt đấy, hiểu mình và rất
quấn quít. Vẫn gặp trên sân bóng, xung quanh là phi lao, có con đường chui qua,
đỏ bụi. Dũng hỏi thăm hết bạn bè. Xuyên đi Bungari rồi. Châu đi Cuba, Dung đi
Tiệp hay Đức gì đó... Thường thôi… đừng coi trọng họ, đi nước ngoài thì người
ta thích, nhưng ít ai thích người đi nước ngoài, có cái gì hơi là lạ…

Dũng nhắc cho mình chuyện
lớp, trường, chuyện thằng Khang, Nhữ Đình Huân, cái tụi nghịch như quỉ sứ - Ngô
Bình nữa, nó đang đóng ở Quảng Bình, bị thương và đã được kết nạp Đảng hay sao
ấy... Nhanh quá, mới đó mà nay mỗi đứa một phương trời. Mình nhớ mấy câu thơ
tặng Bình khi tiễn Bình đi bộ đội hồi cuối lớp 10…

Dũng hỏi mình về chuyện đi
nước ngoài. Khơi dậy làm gì chuyện ấy. Nó khiến mình buồn bã suốt một thời gian
dài. Thật hèn hạ và xấu xa.

Mình kể cho Dũng cuộc sống từ
khi hết lớp 10. Dũng cũng đồng ý với mình và tỏ ra hài lòng với cách sống ấy.
Kể cũng lạ, sao Dũng dễ dàng đồng ý với ý kiến của mình thế.

Dũng bảo mình cần đoàn kết
sâu, rộng với bạn bè hơn nữa. Dũng bảo: “Hãy biết liên kết với các bạn bằng
những mặt tốt của họ. Nên triệt để nối mình với các bạn bằng cái tốt đó”. Kể
cũng hay. Mình sẽ cố gắng.

Đá bóng với B1. Gió mạnh. Dạo
còn ở trường, mình với Thanh hay ở cùng một bên, bây giờ Thanh ở B1, còn mình
lại sang B2. Đá bóng mà nhớ trường, nhớ kỷ niệm đến thế - ơi, Yên Hoà B... đâu
rồi?

Buổi tối ba má và anh của
Minh lên chơi. Còn mình thì chẳng có ai lên cả - Buồn và nhớ gia đình vô cùng.
Nhưng mình không tán thành chuyện lên thăm đó. Mình ngồi nghe rất lâu chuyện
hai bác và anh Bằng nói. Chẳng có gì mà phải lên tận đây cả - Nhớ Minh ư, mà
sao có vẻ thờ ơ tệ. Không giống trong tưởng tượng của mình chút nào? Hay là tại
mình không ở trong tình trạng đó nên mình không biết, không cảm hiểu?

Không, rõ ràng không. Gia
đình đi từ 5h30 sáng mãi trưa mới đến nơi. Mang cả cơm nắm và thức ăn định ăn ở
Bắc Giang, nhưng không hiểu sao lại về tận đây ăn. Buổi trưa, bọn mình ăn cơm,
phải sang chỗ anh Hinh ăn tập trung. Mình chào gia đình và Minh cũng đi ăn - ở
nhà còn ba má và anh Bằng - Sao hai bác và anh không gọi Minh ở lại ăn cùng.

Không hiểu ra sao cả - Lạ
thật - Gia đình mình thì nhất định không thế rồi.

Nói chung, mình chưa hiểu rõ
lắm về Minh và gia đình cậu ta. Biết chung chung, đại khái.

Tối nay, liên hoan tiểu đoàn,
ăn cơm muộn nên được phép nghỉ. Mình nói chuyện với bà.

Bà kể chuyện "Duyên
Tiên”, chuyện “Trương Chi”,v.v... làm mình như trở lại trẻ con. Thương anh Đổng
Vĩnh ra gốc cây đề và khóc, ngóng lên trời tìm nàng Bảy.

Nàng tiên ơi, tấm lụa trắng
đâu rồi, và gốc cây đề ấy ở đâu trong rừng sâu kia?

“Mùa xuân hoa nở, thiếp về

Mời chàng ra gốc cây đề nhận
con…”

Bà bảo mình đọc “Bầm ơi”,
mình đọc, gió lành lạnh và mình thương mẹ quá, mẹ ơi…

Bà đã 60 tuổi – Bà bảo, năm
nay là “năm tuổi”, mẹ mình đã qua tuổi 49 và 53 rồi, không bị làm sao là mừng
lắm. Lạy trời cho mẹ sống lâu, sống mãi và đừng ốm đau gì cả. Thương mẹ lắm mà
không biết làm gì. Thù thằng Mỹ quá, phải giết hết nó đi.

15.11.1971

Thằng Mỹ, nó là cái gì mà mơ
hồ như thế? Đi bộ đội, mình cảm thấy hơi mông lung trong việc nhìn nhận kẻ thù.
Hố bom còn toác ra ở trên đồi. Và cảnh làng xóm tiêu điều, bị tàn phá ngày
29-2-1968, ta đâu có quên. Mặt mũi thằng Mỹ thế nào? Hẳn đó cũng là khuôn mặt
người bị bóp méo xộc xệch. Hẳn đó là bộ mặt nhăn nhúm trước ánh sáng mặt trời.

Đêm ấy, thật đau lòng. Hồi chiều,
bị ném 40 quả bom. Điện bị đứt lung tung. Làng xóm chìm trong tang tóc và bóng
đêm. Ở ngay trước ngõ là một bát hương hiu hiu khói. Anh Phúc bị bom tiện đứt
cả chân tay, nằm trong chiếc quan tài đỏ, ngọn đuốc nứa thổi phừng phừng, cái
xe bò lăn lộc cộc... Sao giống “chiếc quan tài” như thế.

Không, suốt đời ta không
quên, ta không quên cảnh em bé miền Nam đập tay lên vũng máu. Dưới tay em lẽ ra
là chậu nước trong mát – cái biển mênh mông của tuổi thơ hồn nhiên, nhí nhảnh…

Thằng Mỹ, nó thế nào? Trời
ơi, sao lâu quá. Bây giờ cái khao khát nhất của ta – cái day dứt trong ta là
khi nào được vào miền Nam, vào Huế, Sài Gòn - xọc lê vào thỏi tim đen đủi của
quân thù.

Ta ngồi đây, thanh bình như
thế. Nhưng ở cuối trời Tổ quốc, bao nhiêu người con ưu tú của dân tộc đang đổ
máu, đang giập gãy từng khúc xương, đang bị kẻ thù đày đọa và các đồng chí của
ta, anh giải phóng quân kiên cường đang nín thở đợi giờ xung trận, đang đói rét
và đau nhói vết thương trên một cánh rừng già.

Vậy mà, lại đến giờ đi ngủ.
Những cơn gió liu riu trên cành tre đưa ta vào cơn mơ - Ta lại trở về với cái
ngõ nhỏ của mình... Lạc lõng ư? Có lẽ nào!

Ta biết giấu mặt vào đâu, vào
gấu quần hay gấu áo, khi đường Trường Sơn không có dấu chân ta? Khi cả cuộc đời
ta chưa có cái niềm vui mãnh liệt của người chiến thắng, cắm cờ Tổ quốc trên cả
nước thân yêu.

Phạm Tiến Duật, Triệu Bôn…
Các anh đêm nay ở đâu trên Tổ quốc? Các anh có viết những bài thơ, những truyện
ngắn vào giờ này? Ôi, những nhà thơ, nhà văn - chiến sỹ, ta gặp nhau trên cùng
một ước mơ làm nhiều cho Tổ quốc. Chúng ta có mặt trên trận tuyến ác liệt nhất,
khi đất nước đánh thù, có gì tự hào hơn nữa.

Ta bỗng nhớ câu thơ của Hồng
Chính Hiền:

“Thương nhau, thương nhau nên
hoá gần nhau

Nghe cả tiếng hiệp đồng qua
hơi thở…”

Các anh có nghe tiếng tôi?
Tiếng của đứa trẻ bước chập chững vào đời với bao thôi thúc, bao niềm tin, hy
vọng?

20.11.1971

Đại đội trưởng cũng đi rồi.
Quân đội đúng là một đại gia đình, và đi đâu cũng người nhà cả mà thôi.

Chẳng cần tiễn đưa gì cả. Cắt
cho Đại đội trưởng cái đầu mới toe - Kỉ niệm, thế là đủ rồi. Mà kể cũng lạ,
biết đâu lần này chính là lần gặp cuối cùng trong đời! Thế mà thật bình tĩnh,
thật thanh thản. Nhưng, riêng mình vẫn không thể bình thường được.

Hôm nay Quốc tế hiến chương
các nhà giáo đấy. Mình định viết thư cho thi sĩ, nhưng rồi lại bận quá. Không
viết được.

Càng nhớ thầy, càng nhớ bạn,
càng lo lắng về công việc của mình. Tuần lễ cứ trôi qua, ngoảnh lại, chưa làm
được việc gì ra hồn cả. Cả thói quen ghi chép cũng không rèn luyện được. Thật
đáng lo.

Khi còn phổ thông, ước mơ khá
lớn, khá lâu dài là được đi xa và nhiều, và rảnh rỗi mà viết lách. Bây giờ,
thoải mái, không phải suy nghĩ gì về bài học cả. Thế mà từ khi đi bộ đội đến
giờ, mình đã viết được gì đâu.

Cầm viết được nhiều, quả thực
ở nó có tài năng, hay ít ra, đó cũng là một khả năng tốt. Khanh bảo Cầm nó chăm
lắm, mặc dù sức khoẻ yếu. Mình nhớ dạo mới đi bộ đội, hay gặp Cầm lang thang
trong đêm. Có lần đi gác, Cầm nằm ngủ ngay trên cái cầu xi măng bắc qua sông Tô
Lịch. Nó bảo nó nằm nhớ lại dĩ vãng xa xưa của nó ở Kinh đô, đôi guốc mộc và
cái quần chùng, hàn huyên với các sư huynh bên quán nước.

Kể cũng lạ, ở nó có gì đáng
học đâu, ngoài những ý sáng tạo trong thơ. Cách sống của nó hơi ngang tàng và
thiếu nghiêm túc. Nhưng vì sao nó nắm bắt mạch thơ đúng thế. Tưởng như lời nào
của nó cũng là thơ(!)

Giới thiệu bài hát, nó bảo:
Mười con chim sơn ca nuôi trong cổ họng xin ca nhạc phẩm “Trường Sơn Đông -
Trường Sơn Tây" nhạc của (...), lời Phạm Tiến Duật. Nhạc Việt Nam được
trộn pha ácjăngtin… liến thoắng như cái máy mà hấp dẫn. Lúc ấy, nó thật đáng
yêu, và con người nó hoàn toàn là của nghệ thuật.

Có điều là những cái nó viết
ra xanh xao lắm, và hơi trừi tượng, nó đèm đẹp và trơn tru, nhẵn nhụi; Nó thiếu
một sức ấm nóng lan toả. Có lẽ điều đó không phải không đáng ngại.

Mình không muốn và không được
đi theo con đường ấy. Cứ kiên trì, bình tĩnh và tích cực, mình sẽ làm được hết.

Có điều thơ là gì mình cũng
chịu. Thơ không cần chi tiết mà cần hình tượng. Hình tượng thơ phản ánh tâm hồn
con người. Đó là điều quan trọng trong thơ.

Cuộc sống này, mình rất yêu, rất
đắm mình vào. Nhưng sao ngòi bút cứ tắc, cứ ngắc ngoải? Có phải vì mình không
có khả năng? Dám thế lắm.

Càng ngày mình càng hiểu:
Không dễ dàng gì đâu. Dẫu anh có đi nhiều, biết nhiều, nhưng cũng cần phải có
phương pháp tốt.

Trước kia, còn viện cớ này
nọ. Nào dò đường, nhận đường, nào tự tìm mình, tự xác định dấu vết... Nhưng
chẳng lẽ mình cứ hão huyền thế mãi. Cứ lí luận suông thế mãi hay sao?

Mình đã sống thật hay chưa?
Chưa, chưa nghiêm túc sống. Trong cả sinh hoạt, trong cả rèn luyện và trong cả
danh dự, lương tâm của người cầm bút tự giác.

Ao ước quá, nếu như được đi
trên tuyến đường Quyết Thắng, được đi trên đỉnh Trường Sơn, gặp nhà thơ trẻ P.
T. Duật… Mình không biết sẽ hỏi gì, nhưng chắc chắn cuộc gặp gỡ đó sẽ thú vị
biết bao.

Bao nhiêu điều muốn hỏi. Bao
nhiêu băn khoăn thắc mắc: Thế nào là đề tài, chủ đề thơ? Thế nào là cấu tứ một
bài thơ? Nhưng quan trọng hơn cả là nhìn cuộc sống ra sao để có thể đưa vào
thơ, vào truyện những vấn đề nóng hỏi của cuộc sống.

Mình bắt đầu ghét những cảm
xúc mòn, xáo về một đêm hành quân, một đêm gác khuya, một buổi gặp gỡ hoặc chia
tay trong cái ngõ nhỏ thơ thơ. Không phải là Lý Bạch để có thể quên “Hoàng hạc
lâu” mà sáng tác. Cứ hành quân, là trong đầu lại thơ, lại những bài thơ về hành
quân mà mình đã đọc. Vậy là chịu, không thể có một ý gì mới mẻ nữa.

Chẳng có lẽ bầu trời kia
không dành riêng ta một ngôi sao xanh, một ngôi sao đỏ làm nên cái lấp lánh của
bài thơ?

Mình đi lạc đường chăng? Đâu
là "Đường vào thơ”? Càng nghĩ, mình càng bị day dứt và dằn vặt. Mình hiểu
rằng không thể rời bỏ được thơ, được văn. Nhưng viết ra thì không đủ độ chín.
Chí nghĩ trong đầu đã đủ thấy nó xèm xẹp, chỉ muốn dập tắt cái cảm xúc ấy đi.
Không hiểu nhà thơ nào đã nói: Ai đến với cuộc đời chiến đấu để làm thơ thì khó
mà làm nên hồn một bài thơ. Hãy bắt đầu từ cuộc sống, và từ đó sẽ nẩy ra thơ.

Mình đến từ đâu? Mình mong
làm được thơ, làm được nhiều thơ hay để làm gì? Thú thực, chưa rõ ràng gì cả.
Có lúc, mình muốn làm thơ chỉ vì được đọc một bài thơ hay đến xuýt xoa! Có lúc
lại muốn làm thơ để có tên mình trên sách báo “Lưu truyền hậu thế” hay sao? Tư
tưởng này rõ ràng là xấu, không xuất phát từ quan điểm đúng đắn: Phục vụ nhân
dân. Hãy bắt đâu bằng người lính.

Bao nhiêu cơn mơ, chỉ còn lại
những cơn mơ hữu ích. Nhưng đêm tháng 7… “Tháng 6 qua rồi T. nhỉ, bây giờ là
tháng 7”… - “Tháng 7 là gì?” – “Tháng 7, mùa thu, lá phong đỏ…” Cô gái nhỏ ấy
ư, trong “ngõ cụt của tâm hồn”…

Mùa thu trải dài như vô tận,
cái màu xanh da trời như một niềm thương nhớ khôn nguôi...

Nhưng còn mùa xuân, mùa xuân,
mùa vạn vật sinh sôi của trăm ngàn hoa thơm quả ngọt... “Thế là P. đã ở đây với
những mùa đông lạnh lẽo và hoa tuyết thờ ơ, bình thản này... Biết bao giờ ta
mới gặp nhau? Bỗng nhiên lòng buồn vô hạn. Hay là không bao giờ nữa? Và mùa
xuân của cuộc đời P. là như thế đấy..."

Không phải là như thế! Mùa
xuân sẽ về, sẽ đẹp tuyệt vời nhờ sức lực của chính mình.

Tự nhiên, mình cảm thấy và
rất rõ ràng, mình có trách nhiệm với cuộc sống của P.. P. như một cái gì, như
trái tim mình, như một phần thân thể mình. P. có khoẻ không, có nhức đầu và mệt
mỏi hay không? Những đêm khuya như thế này, P. đã đi ngủ hay chưa? Bài chắc
nhiều và khó, có lúc nào P. phải nhíu mày, tập trung suy nghĩ về một bài toán?
Ước gì giúp được cho P. phần nào, đỡ cho P. một phần khó khăn trong học tập...

Nhưng xa nhau rồi... Kisinhốp,
một thành phố nhỏ li ti trong cả liên bang Xô Viết, xa lạ, xa lạ... Còn ngày
mai, mình sẽ ở đâu, mình sẽ đi đâu, không thể biết được. Chẳng bao lâu nữa là
hai đứa hoàn toàn bặt vô âm tín... Rồi sau đó sẽ ra sao? P. sẽ sống ra sao giữa
Thủ đô của bình yên và sung túc, của vật lý hiện đại?

Và chính cả mình nữa, mình sẽ
sống ra sao?

Cơn gió thổi từ phía đồi mặt
trời qua hồ cá. Sương mù thốc nhẹ lên rặng phi lao ven đường... Con trâu đi
ngang, con cá trắng bơi dọc, và những vòng sóng hình tròn toả rộng xung
quanh... Sự sống hiện ra ở khắp mọi chiều. Và chỗ nào mà chẳng có mầm xanh, chỗ
nào mà chẳng có giọt nắng hình quả trứng lăn nghiêng?

“Dĩ vãng thì đã xa xăm. Mà
cuộc sống thì luôn cất tiếng gọi trở về” - Altưnai đấy – Có phải đấy là lời tự
bào chữa. Song, chắc Đuy Sen cũng rất hài lòng về chuyện đó – Như vậy đúng hơn
và hợp lô-gich hơn!

Bắt đầu là bộ đội. Rồi sau là
thầy giáo. Sau nữa là Đuy Sen. Tập đó là Anh - và cuối cùng, là Người, là ông
già đưa thư âm thầm, lặng lẽ... Đuy Sen sao khéo chôn kỷ niệm của mình mà sống.
Đâu phải dễ dàng vì hai cây phong còn đó, vì ngọn đồi Đuy Sen còn đó và mùa thu
trở lại, lá phong đỏ lại rơi, tơi bời trong chòm râu bạc... Con người đó đáng
kính phục lắm, lý tưởng lắm. Đã có ai trên đời này lấy Đuy Sen thay cho Carơsaghin?
Cuộc sống này thi vị biết bao và cần nghị lực biết bao!

Tại sao Đuy Sen lại tự im
lặng, tự ôm lấy con tim mình cho nó khóc? Vì hạnh phúc của Altưnai ư? Vì quyền
lợi của học trò ư? Vì ước mơ cao cả của cả thầy và trò, của dân làng vùng
Kadắc, thèm khát vươn tới đỉnh cao của khoa học…

Còn nhiều nữa và tin rằng,
tất cả là sự thật. Nếu như Altưnai và Đuy Sen lại ở bên nhau như hai cây phong
tuyệt diệu như vậy, thì ông già Đuy Sen cũng là một cái “tôi” to tướng...

Ta biết vậy, ta biết vậy… Và
con đường cũng mở cho ta hai nhánh lớn. Đuy Sen ơi, Người là ngọn lửa, là ngọn
lửa hồng giữa đêm thâu giá buốt. Ta ước mong gì hơn nữa, được làm, được sống
như Đuy Sen, được đau khổ và sung sướng như Đuy Sen...

Ôi, tiếng nói nghẹn thắt của
Người thầy đầu tiên khi con tàu chuyển bánh, cái tiếng thất thanh của con tim ứ
tràn niềm xao xuyến... Altưnai… Altưnai... Cái tiếng thân yêu ấy bánh sắt của
con tàu đã lăn qua - Hay trái tim giầu xúc cảm và lòng nhân đạo, lòng cao
thượng ấy bị bẹp nát trên đường xe lửa?

Cuộc sống tuyệt vời biết bao,
trong thực tế và trên trang sách. Nhưng cuộc sống cũng bi thảm biết bao. Cái
đẹp còn trộn lẫn niềm sầu muộn. Cái nên thơ còn lóng lánh giọt nước mắt ở đời.
Bao giờ để niềm vui về cùng hạnh phúc, để những đôi bạn bình yên dạo trong rừng
bạch đàn, có ánh nắng xanh dịu và những đàn chim câu trắng muốt điểm sáng của
rừng?

Phải đấy, rừng không nên thơ
như ta tưởng. Và để ngày mai tuyệt diệu ấy, hôm nay, có bao người cầm súng, có
bao người gửi gắm vào thiên nhiên xanh tươi, vào cánh rừng gai góc âm u tất cả
thời thanh xuân của mình.

Ai đấy, khi nắm tay người bạn
thân yêu của mình, khi cánh buồm xanh đi về, cánh cửa trời rộng mở, chớ quên
dưới chân mình là cát sỏi, là hòn đất đượm mồ hôi, thấm máu của bao thế hệ, mà
cuộc sống của họ đã xa xôi...

Ai đấy, khi khoác vai người
bạn yêu quí của mình, chỉ cho bạn, kia là ngôi sao Hôm - ngôi sao Mai. .. Ngôi
sao ban chiều và ngôi sao của bình minh. Chớ quên rằng, có buổi sáng nào, sao
Mai, mang màu đỏ, màu máu và màu lửa! Chớ quên rằng, để đêm trăng có những ngôi
sao tình tự, để con người tự do mơ ước vươn tới những đỉnh cao xa; có những
trái tim đầy khát vọng phải xếp vào ba lô mọi mơ ước dịu hiền nhất, mọi tương
lai cá nhân quen thuộc nhất. Mà đánh giặc.

Có lúc nào anh tự hỏi mình:
Đâu là chiến hào đánh Mỹ? Đâu là dây cung để bật những mũi tên căm uất? Còn
tôi. Từ rất lâu rồi, tôi đã tìm ra đâu là chỗ đi và chỗ đến của mình...



hết:Tập
1
, xem
tiếp:
Tập
2

0 nhận xét:

Đăng nhận xét